Hợp đồng bảo hiểm là cơ sở pháp lý quan trọng nhằm bảo vệ quyền lợi của các bên tham gia trước các rủi ro có thể xảy ra. Tuy nhiên, không phải mọi hợp đồng bảo hiểm được ký kết đều có giá trị pháp lý. Trong một số trường hợp nhất định, hợp đồng bảo hiểm có thể bị tuyên bố vô hiệu, dẫn đến những hậu quả pháp lý nghiêm trọng cho cả bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm.
Việc hợp đồng bảo hiểm bị vô hiệu không chỉ làm người tham gia mất quyền yêu cầu bồi thường, mà còn ảnh hưởng đến sự ổn định và minh bạch của thị trường bảo hiểm. Đáng chú ý, nhiều trường hợp hợp đồng vô hiệu không xuất phát từ hành vi gian dối có chủ ý, mà do thiếu hiểu biết pháp luật, kê khai thông tin không đầy đủ hoặc sai sót trong quá trình giao kết hợp đồng.
Vậy, khi nào hợp đồng bảo hiểm được coi là vô hiệu? Và hậu quả pháp lý của hợp đồng bảo hiểm vô hiệu là gì? Hãy cùng Legal House & Partners tìm hiểu ngay dưới đây!
A. CÁC TRƯỜNG HỢP HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM VÔ HIỆU
Theo quy định của Luật Kinh doanh bảo hiểm, hợp đồng bảo hiểm sẽ được coi là vô hiệu trong 10 trường hợp sau:
1. Bên mua bảo hiểm không có quyền lợi có thể được bảo hiểm tại thời điểm giao kết hợp đồng bảo hiểm
Quyền lợi có thể được bảo hiểm là mối quan hệ lợi ích hợp pháp giữa bên mua và đối tượng bảo hiểm. Nếu người mua bảo hiểm không có bất kỳ quyền lợi nào gắn liền với đối tượng được bảo hiểm, thì hợp đồng sẽ không được công nhận.
Ví dụ, anh A mua bảo hiểm nhân thọ cho anh B trong khi hai người không có quan hệ gia đình, không nghĩa vụ nuôi dưỡng và không có ràng buộc tài chính. Trong trường hợp này, anh A không có quyền lợi có thể được bảo hiểm, nên hợp đồng bị vô hiệu.
2. Không có đối tượng bảo hiểm tại thời điểm giao kết hợp đồng bảo hiểm
Hợp đồng bảo hiểm sẽ vô hiệu nếu tại thời điểm ký kết, đối tượng bảo hiểm không tồn tại hoặc đã không còn tồn tại, khiến việc bảo hiểm trở nên vô nghĩa về mặt pháp lý.
Ví dụ, anh A ký hợp đồng bảo hiểm cháy nổ cho một căn nhà nhưng thực tế căn nhà này đã bị tháo dỡ trước đó. Do không tồn tại đối tượng bảo hiểm, hợp đồng bị vô hiệu.
3. Tại thời điểm giao kết hợp đồng bảo hiểm, bên mua bảo hiểm biết sự kiện bảo hiểm đã xảy ra
Bảo hiểm được thiết lập để phòng ngừa cho những rủi ro trong tương lai. Nếu người mua đã biết chắc sự kiện bảo hiểm đã xảy ra nhưng vẫn ký hợp đồng nhằm trục lợi, thì hợp đồng sẽ không được pháp luật bảo vệ.
Ví dụ, chị B biết rõ mình đã mắc bệnh nan y nhưng vẫn ký hợp đồng bảo hiểm sức khỏe để yêu cầu chi trả. Hợp đồng trong trường hợp này bị vô hiệu.
4. Mục đích, nội dung hợp đồng bảo hiểm vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội
Những hợp đồng được lập ra nhằm phục vụ hành vi trái pháp luật hoặc đi ngược lại các chuẩn mực đạo đức xã hội sẽ không được pháp luật công nhận.
Ví dụ, mua bảo hiểm cho hàng hóa vận chuyển nhằm phục vụ hoạt động buôn bán trái phép thì hợp đồng bảo hiểm đó bị vô hiệu
5. Hợp đồng bảo hiểm được giao kết một cách giả tạo
Hợp đồng bảo hiểm bị coi là giả tạo khi các bên không thực sự có ý định xác lập quan hệ bảo hiểm, mà chỉ lập hợp đồng trên hình thức để che giấu hoặc phục vụ cho một giao dịch, mục đích khác.
Ví dụ, doanh nghiệp A và cá nhân B ký một hợp đồng bảo hiểm nhân thọ với số tiền bảo hiểm rất lớn, nhưng trên thực tế hai bên không hề có ý định thực hiện bảo hiểm. Mục đích thực sự của việc ký hợp đồng chỉ nhằm hợp thức hóa dòng tiền, chuyển tiền từ doanh nghiệp sang cá nhân dưới danh nghĩa phí bảo hiểm, hoặc phục vụ cho mục đích tài chính khác. Trong trường hợp này, hợp đồng bảo hiểm được xác lập một cách giả tạo và sẽ bị tuyên vô hiệu.
6. Hợp đồng bảo hiểm được giao kết có sự nhầm lẫn
Trường hợp hợp đồng hợp đồng bảo hiểm có sự nhầm lẫn làm cho một bên hoặc các bên không đạt được mục đích của việc giao kết hợp đồng, thì hợp đồng có thể được coi là vô hiệu.
Tuy nhiên, trường hợp các bên đã đạt được mục đích giao kết hoặc các bên có thể khắc phục ngay được sự nhầm lẫn làm cho mục đích của việc giao kết hợp đồng vẫn đạt được thì hợp đồng vẫn có thể coi là có hiệu lực.
7. Hợp đồng bảo hiểm được giao kết do bị lừa dối, trừ trường hợp quy định tại Điều 22 của Luật này
Hợp đồng bảo hiểm bị coi là vô hiệu nếu một bên cố ý cung cấp thông tin sai sự thật hoặc che giấu thông tin quan trọng nhằm làm cho bên kia hiểu sai và giao kết hợp đồng trái với ý chí thực sự của mình. Hành vi lừa dối có thể xuất phát từ bên mua bảo hiểm hoặc từ doanh nghiệp bảo hiểm.
Ví dụ, nhân viên tư vấn bảo hiểm cố tình cam kết chắc chắn sẽ được chi trả quyền lợi bảo hiểm trong khi điều khoản loại trừ đã được quy định rõ trong hợp đồng, khiến bên mua hiểu sai bản chất sản phẩm và ký hợp đồng. Trong trường hợp này, hợp đồng có thể bị tuyên vô hiệu.
8. Hợp đồng bảo hiểm không tuân thủ quy định về hình thức quy định pháp luật
Hợp đồng bảo hiểm phải được lập bằng văn bản, được chứng minh dưới dạng hợp đồng, giấy chứng nhận bảo hiểm, đơn bảo hiểm,…
9. Bên mua bảo hiểm là người chưa thành niên; người mất năng lực hành vi dân sự; người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự
10. Bên mua bảo hiểm không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình;hoặc bị đe dọa, cưỡng ép khi giao kết hợp đồng
B. HẬU QUẢ KHI HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM VÔ HIỆU
Luật Kinh doanh Bảo hiểm quy định về hậu quả của Hợp đồng bảo hiểm vô hiệu như sau:
“Khi hợp đồng bảo hiểm vô hiệu thì hợp đồng không có hiệu lực từ thời điểm giao kết. Doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài và bên mua bảo hiểm hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường”.
- Đầu tiên, hợp đồng vô hiệu dẫn đến hợp đồng không có hiệu lực từ thời điểm giao kết.Điều này có nghĩa doanh nghiệp bảo hiểm không phải chịu trách nhiệm bảo hiểm đối với bất kỳ rủi ro nào, kể cả trường hợp sự kiện bảo hiểm đã xảy ra trước khi hợp đồng bị tuyên vô hiệu. Đồng thời, bên mua bảo hiểm cũng không có nghĩa vụ tiếp tục đóng phí bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng vô hiệu đó.
- Thứ hai, các bên hoàn trả lại cho nhau những gì đã nhận.Cụ thể, doanh nghiệp bảo hiểm phải hoàn lại toàn bộ số tiền phí bảo hiểm mà bên mua đã đóng. Ngược lại, nếu trước khi phát hiện hợp đồng vô hiệu mà doanh nghiệp bảo hiểm đã chi trả tiền bảo hiểm, thì bên mua bảo hiểm hoặc người thụ hưởng có trách nhiệm hoàn trả lại khoản tiền đã nhận này.
- Thứ ba, bồi thường thiệt hại nếu xác định có lỗi.Vấn đề bồi thường thiệt hại sẽ được đặt ra nếu xác định có lỗi của một trong các bên. Trường hợp lỗi thuộc về doanh nghiệp bảo hiểm, chẳng hạn như tư vấn sai, cố tình hướng khách hàng ký hợp đồng không đúng đối tượng, không giải thích rõ các điều khoản loại trừ làm khách hàng hiểu sai bản chất hợp đồng…, thì doanh nghiệp bảo hiểm phải bồi thường những thiệt hại thực tế phát sinh cho bên mua bảo hiểm. Ngược lại, nếu hợp đồng vô hiệu do lỗi của bên mua bảo hiểm, như cố ý cung cấp thông tin sai sự thật, giả mạo chữ ký, gian dối về tình trạng rủi ro để giao kết hợp đồng, thì bên mua phải bồi thường cho doanh nghiệp bảo hiểm các chi phí phát sinh như chi phí thẩm định hồ sơ, kiểm tra y tế, phát hành hợp đồng và chi phí quản lý liên quan.
***
Bài viết này nhằm mục đích cung cấp thông tin và phổ biến quy định pháp luật, không nhằm thay thế cho bất kỳ ý kiến/nhận định pháp lý chuyên sâu nào trong bất kỳ vụ việc cụ thể nào. Trong trường hợp cần được tư vấn cụ thể hoặc cần hỗ trợ pháp lý, quý khách có thể liên hệ với Legal House theo thông tin dưới đây:
CÔNG TY LUẬT TNHH LEGAL HOUSE & PARTNERS
Email: support@legalhouse.vn
Điện thoại: 0918 103 030 – 0918 30 3232
Địa chỉ: Số 34 Đặng Dung, Phường Tân Định, Thành Phố Hồ Chí Minh.



